Hình ảnh người phụ nữ việt nam thời xưa qua bài tự tình và thương vợ

Đề 1: Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa qua các bài Bánh trôi nước, Tự tình (bài II) của Hồ Xuân Hương và Thương vợ của Trần Tế Xương

 

Dàn ý Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa qua các bài Bánh trôi nước, Tự tình (bài II) của Hồ Xuân Hương và Thương vợ của Trần Tế Xương

 

1. Mở Bài

. Giới thiệu: người phụ nữ Việt Nam thời xưa.

Bạn đang xem: Hình ảnh người phụ nữ việt nam thời xưa qua bài tự tình và thương vợ

2. Thân bài

a. Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa gợi ý 1:


– Đó là những con người đẹp đẽ, không chỉ ở bề ngoài mà chủ yếu ở những phẩm chất cao quý.

. Vẻ đẹp bề ngoài của người phụ nữ “Thân em vừa trắng lại vừa tròn”. Lòng dạ sắt son vẫn được giữ vẹn “Mà em vẫn giữ tấm lòng son”.

. Tình yêu thương, lòng nhân hậu:

“Quanh năm buôn bán ở mon sông.

Nuôi đủ năm con với một chồng”.

. Tinh thần mạnh mẽ, dám vượt lên trên đớn đau để tìm niềm hạnh phúc:

“Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn”.

b. Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa gợi ý 2:

– Đó là những con người phải chịu nhiều nổi đau:

. Khổ đau vì vất vả, cực nhọc:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đong”.

. Khổ đâu khi không được làm chủ số phận của mình:

“Bảy nổi ba chìm với nước non

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn”.

. Khổ đau vì cô quạnh, thiếu vắng hạnh phúc lứa đôi; vì không người yêu thương, thông cảm:

“Đêm khuya vắng vẳng trống canh đồn

Trơ cái hồng nhan với nước non”.

“Chén rượu hương đưa say lại tình

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”.

“Ngàn nỗi xuân đi xuân lại lại

Mảnh tình san sẻ tí con con”.

3. Kết bài

– Đánh giá chung: người phụ nữ Việt Nam thời xưa.

 

Bài làm 1 Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa qua các bài Bánh trôi nước, Tự tình (bài II) của Hồ Xuân Hương và Thương vợ của Trần Tế Xương.

 

Phụ nữ Việt Nam là những người đức hạnh, khao khát một cuộc sống yên bình, hạnh phúc, nhưng các thế lực bạo tàn và cả lễ giáo khắc nghiệt lại xô đẩy họ vào những cảnh ngộ éo le, oan khuất, bất hạnh. Chủ đề này là nguồn cảm hứng cho các nhà văn, nhà thơ trung đại sáng tác những tác phẩm giá trị, nổi tiếng mà nổi bật là các bài thơ Bánh trôi nước, tự tình (bài II) của Hồ Xuân Hương và Thương vợ của Trần Tế Xương.

Qua những bài thơi trên, hình ảnh người phụ nữ hiện lên trước hết là những con người đẹp đẽ, không chỉ ở hình thức mà chủ yếu ở những phẩm chất cao quý: tài năng, nhân phẩm và khát vọng chân chính của con người như khát vọng vê quyền sống, khát vọng tự do, công lý, khát vọng tình yêu, hạnh phúc … Vẻ đẹp bền ngoài của người phụ nữ đã được nhà thơ Hồ Xuân Hương diễn tả trong bài Bánh trôi nước như sau:

“Thân em vừa trắng lại vừa tròn”. 

Chiếc bánh trôi nước làm bằng bột nếp trắng tinh, mịn màng, tròn trịa và xinh xắn khiến người ta liên tưởng tới vẻ đẹp hồn nhiên của những cô gái đương xuân. “Vừa trắng lại vừa tròn”, từ ngữ gợi tả đả được sử dụng thật khéo léo để vừa diễn tả hình dang tròn và màu sắc trắng của bánh trôi nước, vừa ca ngợi vẻ đẹp hình thức của người phụ nữ với làn da trắng, thân thể đầy đặn. Nhưng đẹp nhất ở người phụ nữ vẫn là những phẩm chất cao quý.

“Mà em vẫn giữ tấm lòng son”.

Đây chính là lòng dạ sắt son vẫn được giữ nguyên vẹn, không để mất đi trong cuộc đời chìm nổi, lênh đênh. Hình ảnh ẩn dụ so sánh ngầm “tấm lòng son” vừa diễn tả được cái nhân màu đỏ của bánh trôi nước vừa nói lên tấm lòng chung thủy sắt son được giữ vững dù trong bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào. Ở đây, tác giả đã sử dụng từ “mà” một cách xuất sắc để nói lên quyết tâm đó. Hơn nữa, Hồ Xuân Hương cũng rất khéo léo khu sử dụng đại từ “em” ở câu mở bài và kết thúc của bài thơ để diễn tả sự khiêm tốn của người phụ nữ dù họ vẫn tự hào về vẻ đẹp tâm hồn lẫn hình thức của mình.


Còn trong bài thơ Thương vợ, phẩm chất của người phụ nữ chính là tình yêu thương, lòng nhân hậu, một lòng một dạ vì chồng con:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng”.

Câu thơ diễn tả gánh nặng gia đình đặt lên vai bà Tú. Từ “mon” thật là hay, giúp người đọc thấy được nỗi gian truân của bà Tú khi quanh năm buôn bán bên bờ sông Vị, nơi ba bề là nước rất nguy hiểm. Bà vất vả quanh năm chẳng nề hà như vậy để nuôi cả nhà. Đông con, nuôi lũ con đông ấy đã đành, bà còn phải nuôi chồng. Năm con với một chồng là sáu người. Một phải gánh sáu, thế đã là nặng, phải gánh và gánh được, thế là đảm đang. Nhưng có lẽ một mình ông Tú nhu cầu cũng bằng của năm đứa con kia cộng lại (vì ông ngoài nhu cầu ăn, uống còn giấy vở, bút, nghiêm, mực …). Vì vậy nhà thơ đã tách ông ra một bên đòn gánh để gánh cho cân:

“Nuôi đủ năm con với một chồng”.

Xem thêm: Tọa Độ 10 Quán Trà Sữa Ở Đà Lạt Cực Ngon Và Đông Khách Nhất, Update 16 Quán Trà Sữa Ở Đà Lạt Ngon Quên Lối Về

 Vì cái gánh quá nặng nên bà vất vả quanh năm như vậy mà cũng chỉ vừa đủ nuôi chồng, nuôi con. Vậy mới thật là đảm, nặng đến thế mà cũng gánh xong, khó thế mà cũng chu toàn. Câu thơ thể hiện sử vất vả, gian lao, đức tính chịu thương, chịu khó hết lòng vì chồng, vì con, đồng thời ca ngợi sự đảm đang, tần tảo của bá Tú nói riêng và của người phụ nữ Việt Nam nói chung.

Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ còn là tinh thần mạnh mẽ, dám vượt lên trên đớn đau để tìm niềm hạnh phúc mà mình hằng khao khát. Hồ Xuân Hương đã nêu lên tinh thần này trong bài thơ Tự tình như sau:

“Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn”.

Hình tượng thiên nhiên dữ dội, “nổi loạn” như tính cách bướng bỉnh không chịu khuất phục của chính tác giả. Hai câu thơ tưởng như chỉ miêu tả cảnh vật xung quanh, nhưng chính những đặc điểm của cảnh vật đó dã được dùng để bộc lộ tâm trạng của con người. Những sinh vật bé nhỏ, hèn mọn còn hèn mọn hơn cả “nội cỏ hoa hèn” như đám rêu kia mà cũng không chịu mềm yếu. Nó phải mọc xiên, “xiên ngang mặt đất”. Đá đã rắn chắc lại phải rắn chắc hơn, nó phải “đam toạc chân mây”. Chỉ là những cảnh vật bình thường không có gì đặc biệt như rêu và đá, nhưng qua cách nhìn đầy bất mãn, ấm ức của tác giả, chúng trở nên vô cùng sống động. Đây cũng chính là tâm trạng của Hồ Xuân Hương phẫn uất trước những tục lễ phong kiến, những thế lực đang tàn nhẫn ra tay bóp chết hạnh phúc của bà. Đây quả là một cách suy nghĩ vô cùng mới mẻ, một tư tưởng đi trước thời đại, một tính cách hoàn toàn khác biệt so với người phụ nữ lúc bấy giờ. Đó cũng chính là một bản lĩnh một các tính Hồ Xuân Hương thật đáng trân trọng.

Tuy đẹp như vậy nhưng người phụ nữ xưa phải chịu nhiều nỗi khổ đau … Trước hết, họ phải sống cuộc sống vất vả, cực nhọc. Chúng ta thử xem công việc của bà Tú trong bài thơ Thương vợ:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông”.

Tú Xương mượn hình ảnh con cò trong ca dao để nói về bà Tú. Hình ảnh con cò trong ca dao đã tội nghiệp, hình ảnh con cò trong thơ Tú Xương còn tội nghiệp hơn. Chỉ bằng ba từ “khi quãng vắng”, tác giả đã nói lên được cả thời gian, cả không gian heo hút, rợn ngợt, chứa đầy lo âu. Hình ảnh này càng kafm tăng nỗi vất vả, gian truân, đơn chiếc của bà Tú.

Câu thơ tiếp theo gợi cảnh chen chúc, bươn bả trên sông nước của những người buôn bán nhỏ. Sự cạnh tranh chưa đến mức sát phạt nhau nhưng cũng không thiếu lời qua tiếng lại. Buổi đò đông đâu phải là ít lo âu, nguy hiểm hơn khi quãng vắng. Bà Tú đã vất vả, đơn chiếc, nay lại thêm sự bươn chải trong hoàn cảnh chen chúc làm ăn.

Người phụ nữ xưa phải chịu nỗi khổ đau hơn nữa khi không được làm chủ số phận của mình. Hồ Xuân hương đã thốt lên”

“Bảy nổi ba chìm với nước non

Rắn nước mặc dầu tay kẻ nặn”.

Đây chính là hình ảnh chìm nổi của bánh trôi nước ở trong nồi nước sôi, đồng thời làm ta liên tưởng tới hình ảnh về số phận của người phụ nữ phải lênh đênh không định hướng được cuộc đời sẽ về đâu. Và hơn thế nữa, họ không được làm chủ số phận của mình. Cuộc đời của họ “rắn hay nát”, nghĩa là hạnh phúc hay đau khổ giống như hình ảnh rắn nát của bánh trôi nước là tùy “tay kẻ nặn”. Bởi vì, sống trong xã hội phong kiến, họ bị ràng buộc bởi nhiều tư tưởng lạc hậu “trọng nam khinh nữ”, “chồng chúa vợ tôi”, “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” …

Người phụ nữ xưa cũng phải chịu nỗi khổ đau vì cô quạnh, thiếu vắng hạnh phúc lứa đôi, vì không người yêu thương, thông cảm … Bài thơ Tự tình đã nói họ điều này:

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhan với nước non”.

Trống cánh dồn văng vẳng là âm thanh duy nhất trong đêm vắng. Nửa đêm là thời gian sum họp của vợ chồng, là thời điểm hạnh phúc lứa đôi. Vậy mà lại có người phụ nữ tỉnh dậy vào đúng thời khắc thiêng liêng ấy, hay vì cả đêm người phụ nữ đã không ngủ được vì chăn đơn gối chiếc, vì tâm trạng đang mang nặng một nỗi cô đơn? Đó có phải là tiếng trống cất lên từ tiếng lòng thổn thức của tác giả, tiếng trống ám ảnh về một bi kịch đang ngày càng đến gần hơn với bà. Khi thời gian cứ lướt qua càng lúc càng dồn dập thì cũng là lúc “hồng nhan” ngày một trơ ra với đời. Đó là điều mà bất cứ người phụ nữ nào cũng hết sức tự hào, coi trọng, nâng niu. Nhưng “hồng nhan”để làm gì khi nửa đêm phải tỉnh giấc trong cái trống trải, lạnh lẽo đến cay đắng. Câu thơ như lời đay nghiến, mỉa mai chính bản thân mình, đang thương cho những người phụ nữ đương thời bị đè nén, áp bức với những hủ tục phong kiến đến mức xơ xác, héo mòn cả một phận hồng nhan. Đó còn là nỗi đau vì cô quạnh, thiếu vắng hạnh phúc lứa đôi, không người yêu thương, thông cảm.

“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”.

Một người phụ nữ mà phải ngồi uống rượu một mình, cô đơn với đêm khuya, với vầng trăng lạnh. Câu thơ là ngoại cảnh mà cũng là tâm cảnh, tạo nên sự đồng nhất giữa trăng với người. Khi muốn quên sầu là lúc người ta ở trong tâm trạng cay đắng nhất, khi xung quanh không có ai để có thể chia sẻ nỗi niềm và ta chỉ còn biết quên đi nỗi niềm trong men rượu, một mình. Trăng vốn là biểu tượng của hạnh phúc, là hình ảnh đại diện cho ước mơ và hy vọng. Nhưng trang của Hồ Xuân Hương lại “khuyết”, “chưa tròn” – biểu tượng cho một hạnh phúc không hề trọn vẹn, một cuộc đời còn dang dở, éo le với những trắc trở trong tình duyên. Ánh trăng sáng mà lạnh lẽo vô cùng. Ẩn hiện trong đó một nỗi cô đơn, trống vắng. Bóng xế đi kèm với trăng lại gợi nên một nỗi niềm trong lòng tác giả: nỗi lo sợ trước tuổi xuân đang đi mất. Trăng đã xế mà vẫn khuyết chưa tròn, giống như tuổi xuân của Hồ Xuân Hương đang mất đi mà tình duyên chưa được trọn vẹn.

“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

Mảnh tình san sẻ tí con con”.

Ngán là chán ngán, là ngán ngẩm. Hồ Xuân Hương ngán lắm rồi nổi đời éo le, bạc bẽo. Từ xuân mang hai nghĩa, vừa là mùa xuân, vừa là tuổi xuân. Mùa xuân đi rồi, mùa xuân trở lại với thiên nhiên, với muôn nghìn hoa cỏ, lá cây, nhưng với con người, tuổi xuân qua là không bao giờ trở lại. Nghệ thuật tăng tiến làm cho nghịch cảnh càng éo le hơn: “Mảnh tình san sẻ tí con con”. Mảnh tình đã bé lại còn san sẻ thành ít ỏi, chỉ còn tí con con nên càng xót xa, tội nghiệp. Câu thơ được viết ra có thể là tâm trạng của người mang thân đi làm lẽ. Đau xót biết mấy, khi mảnh tình là một thứ được chia năm xẻ bảy, nhận được duy nhất một mảnh tí con con. Hạnh phúc của bà chẳng những không trọn vẹn mà còn nhỏ bé, ít ỏi đến mức độ tội nghiệp. Tình duyên như thế có để làm gì, chỉ càng thêm tủi nhục, đắng cay. Bi kịch của Hồ Xuân Hương cũng là của người phụ nữ thời bấy giờ.

Vì sao trong thơ của hai nhà thơ nổi tiếng của nền văn học trung đại như Hồ Xuân Hương, Trần Tế Xương, hình tượng người phụ nữ Việt Nam lại hiện lên giống nhau như vậy? Họ đều chịu nhiều đau đớn, tủi cực nhưng vẫn toát lên tinh thần đấu tranh mạnh mẽ, vượt lên số phận để làm tốt bổn phận của một người phụ nữ trong gia đình, một người phụ nữ dám vượt lên trên đớn đau để tìm hạnh phúc mà mình hắng khao khát. Vì đây chính là cuộc sống cuộc đời thực sự của những người phụ nữ trong xã hội xưa, đồng thời là kết tinh của những đức tính tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam qua hàng bao thế kỉ.

Đồng cảm với các nhà thơ qua các tác phẩm văn học cổ, chúng ta phải cố gắng xây dựng cuộc sống tốt đẹp, không còn áp bức, bất công, nhất là để tiếng đàn hạnh phúc luôn ngân lên những tiếng tơ đồng ngợi ca cuộc sống tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam.

“Thân em như củ ấu gai

Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen

Ai ơi nếm thử mà xem

Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi”.

 

Bài làm 2 Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa qua các bài Bánh trôi nước, Tự tình (bài II) của Hồ Xuân Hương và Thương vợ của Trần Tế Xương.

 


Trong kho tàng văn học Việt Nam có rất nhiều bài thơ nói lên than phận của người phụ nữ phong kiến xưa. Đó là những người phụ nữ chịu sự ràng buộc của lễ giáo phong kiến “Tam tòng, tứ đức” ( tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử và công dung ngôn hạnh). Họ hầu như không có quyền quyết định cuộc đời mình, chỉ biết sống cam chịu và phục tùng. Cảm thông với số phận, thân phận và phẩm chất của người phụ nữ xưa, hai nhà thơ Hồ Xuân Hương và Trần Tế Xương đã thay họ nói lên tiếng lòng mình qua các bài thơ như: Tự tình, Bánh trôi nước, Thương vợ…..